Want to create interactive content? It’s easy in Genially!
Phân tích vai trò cảu lao động và ngôn ngữ.6
Thịnh Thanh
Created on November 4, 2023
by Thanh Thịnh
Start designing with a free template
Discover more than 1500 professional designs like these:
View
Animated Chalkboard Presentation
View
Genial Storytale Presentation
View
Blackboard Presentation
View
Psychedelic Presentation
View
Chalkboard Presentation
View
Witchcraft Presentation
View
Sketchbook Presentation
Transcript
PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG VÀ NGÔN NGỮ
Phần trình bày của nhóm 6
thành viên nhóm 6
- Trần Thị Thu
- Vũ Thanh Thịnh
- Nguyễn Ngọc Sơn ( Trưởng nhóm)
- Lê Xuân Sơn
- Nguyễn Đình Sơn
- Lê Huy Tâm
- Phạm Duy Thái
phân tích vai trò Của lao động và ngôn ngữ (65S1-6)
nhóm 6
Bắt Đầu Nào
thuyết trình: NGUYỄN NGỌC SƠN
1. lao động
đẦU TIÊN LAO ĐỘNG ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?
QUAN NIỆM : “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người“.
Khái niệm này nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội. Thực tế, hoạt động lao động của con người được thực hiện trên nhiều lĩnh vực hết sức phong phú và đa dạng, như nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá nghệ thuật …Vì vậy, khái niệm này chưa thể hiện rõ được hết các hoạt động lao động của con người.
Mác – Lênin viết:
“Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người”
Trong bộ luật lao động năm 1994 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết:
“Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội“.
Hai khái niệm sau cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn diện các hoạt động lao động phong phú của con người. Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng. Trong lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương thức tác động vào thế giới tự nhiên, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn. Như vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong quá trình con người phát triển hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại.
Thứ HAI: vai trò của lao động trong đời sống xã hội
Tạo ra nguồn vật chất nuôi sống mỗi con người, gia đình và xã hội. Là nguồn thu nhập chính đáng, giúp ổn định cuốc sống của con người. Giúp phân công, tổ chức lao động hợp lý, biết tính toán và sáng tạo để đạt năng suất, chất lượng hiệu quả nhất, chi tiêu hợp lý cùng như tiết kiệm. Tạo ra của cải, vật chất, làm giàu cho xã hội. Tạo ra thu nhập cho con người, nuôi sống con người. Giúp con người thoát khỏi thế giới động vật từ vượn người tiến hóa thành người. Giúp con người tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần nuôi sống bản thân, gia đình, góp phần xây dựng xã hội phát triển...
Trong triết học Mác, con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm, bởi con người là điểm xuất phát và giải phóng con người là mục đích cao nhất của triết học Mác hướng đến. Trong đó, triết học Mác khẳng định con người là chủ thể của lao động sản xuất vật chất, chủ thể của những sáng tạo toàn bộ đời sống lịch sử, xã hội. Thông qua lao động, con người đã hình thành nên bản thân mình và toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Các ông khẳng định: “lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” . Quan điểm này thể hiện:
Lao động quyết định đối với việc hình thành con người
Lao động giúp con người nhận thức rõ hơn về thiên nhiên
Lao động giúp con người xác lập các mối quan hệ xã hội và hoàn thiện chính bản thân con người
Nội dung chính sau.
1. Lao động quyết định đối với việc hình thành con người
Ăng ghen đồng tình với quan điểm của Đác Uyn khi khẳng định con người có nguồn gốc từ loài vượn người. Nhờ lao động mà loài vượn người có sự biến đổi từ ngoại hình cho đến bản chất và hình thành nên cộng đồng xã hội loài người. Theo đó, ông cho rằng, trong quá trình lao động, loài vượn người sử dụng tay để leo trèo, cầm nắm, hái lượm, săn bắt. Chính vì vậy, đôi tay (chân trước) và đôi chân sau sử dụng thực hiện chức năng khác nhau. Theo thời gian, dần dần đôi tay tiến hóa linh hoạt hơn và trở nên đẹp hơn. Trãi qua hàng nghìn thế kỷ, đôi tay của con người mới có thể tiến hóa thành đôi tay của người hiện đại hiện nay.
- Về dáng đứng thẳng, lúc đầu loài vượn người cũng như những loài vượn khác - di chuyển bằng 4 chân. Nhưng trong quá trình lao động, sự biến đổi của đôi tay, cộng với việc loài người bổ sung thêm thức ăn từ động vật. Nghĩa là vừa hái lượm, vừa săn bắt, cho nên khi hái những quả trên cao, vượn phải vươn thẳng người. Khi săn bắt, gặp những động vật cao to hơn, vượn người cũng đứng thẳng để tỏ ra to lớn hơn, đe dọa con mồi và có sự thay đổi sang dáng đứng. Tuy nhiên, Ăng ghen cho rằng, lúc đầu dáng đứng thẳng chỉ được loài vượn người thực hiện khi cần thiết, dáng đi lại rất xấu, kiểu như “một người què đi bằng nạng vậy”. Phải trãi qua thời gian tiến hóa lâu dài, vượn người mới có dáng đứng thẳng như hiện nay.
- Về sự phát triển của não người: Chính nhờ trãi qua quá trình lao động, loài vượn người phát minh ra rìu để chặt nhỏ thức ăn, biết sử dụng lửa để đun mềm thức ăn, vì vậy, quai hàm tiến hóa nhỏ, gọn lại và đẹp hơn. Nhưng yếu tố quyết định nhất để hình thành nên bộ não người theo Ăng ghen: “là thức ăn bằng thịt đã tác động đến bộ óc, cung cấp rất nhiều hơn trước những chất cần thiết cho sự bồi dưỡng và phát triển của bộ óc, và nhờ đó mà từ thế hệ này sang thế hệ khác, bộ óc có thể phát triển nhanh chóng hơn và đầy đủ hơn”[2]. Như vậy, có thể khẳng định rằng chính trãi qua lao động, hình dáng người hiện đại dần được hình thành. Qua lao động, con người dần tách khỏi tự nhiên, biết tự trồng trọt, chăn nuôi và sáng tạo nghệ thuật để hình thành nên thế giới riêng của mình. Ngoài ra, khi lao động cùng nhau, loài vượn người thấy cần thiết “phải nói với nhau một cái gì đó”, vì vậy ngôn ngữ xuất hiện. Và cùng với sự phát triển của bộ não, ngôn ngữ cũng ngày càng hoàn thiện; hình thành quan hệ xã hội và chi phối lại hoạt động lao động của bản thân con người.
2. Lao động giúp con người nhận thức rõ hơn về thiên nhiên
Mác và Ăng ghen đánh giá cao vai trò của lao động đối với sự phát triển của con người, giúp con người hiểu rõ vị trí của mình trong thế giới tự nhiên. Qua lao động, con người tác động vào thiên nhiên – các ông gọi là mẹ thiên nhiên; từ chỗ hoàn toàn lệ thuộc và sợ thiên nhiên, thì dần dần, con người đã chinh phục thiên nhiên, nắm quy luật và buộc thiên nhiên phục vụ trở lại bản thân con người. Tuy nhiên, các ông đưa ra dự đoán rằng: “chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên. Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta”[3], nghĩa là con người không nên tác động quá mức vào thiên nhiên. Bởi mỗi lần như vậy, con người phải gánh chịu hậu quả khôn lường. Dự đoán ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
3. Lao động giúp con người xác lập các mối quan hệ xã hội và hoàn thiện chính bản thân con người
Quá trình lao động không chỉ giúp con người hoàn thiện bản thân cho đến khẳng định vị trí trong mối quan hệ với thiên nhiên mà còn xác lập được vị trí trong các quan hệ xã hội. Khi lao động, con người tham gia sâu vào các quan hệ xã hội, nhất là quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống bản thân con người và xã hội nói chung. Do đó, con người càng đóng góp vai trò vào sự phát triển của xã hội thì càng được xã hội đánh giá cao, địa vị xã hội và quan hệ xã hội được khẳng định. Và qua quá trình đó, bản thân con người cũng dần hoàn thiện hơn. Cho nên, để đánh giá tính tích cực của con người, một trong những tiêu chí cần phải lưu ý là sự tham gia sâu rộng của cá nhân đó vào các quan hệ xã hội.
thực tế ở đất nước TA:
Vận dụng quan điểm triết học Mác về lao động đối với hình thành con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thực hiện được với “sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người”. Trên cơ sở đó trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, Đảng ta chủ trương: phát huy sức sáng tạo trong lao động của mọi người dân Việt Nam. Mọi người dân, mọi thành phần kinh tế được Đảng và Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để đóng góp vai trò, công sức của mình vào công cuộc xây dựng đất nước “phồn vinh, hạnh phúc”. Đảng ta chỉ ra rằng để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, một mặt phải tranh thủ và tận dụng được sức mạnh thời đại, sức mạnh của khoa học công nghệ; nhưng mặt khác, quan trọng hơn và quyết định nhất, căn bản nhất là phải “đổi mới năng lực sáng tạo của con người” với vai trò là chủ thể của lao động, của sáng tạo để xây dựng đất nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa
THỨ 3. Vai trò của lao động trong sự hình thành và phát triển của ý thức
Nhìn từ góc độ sử học và suy luận logic, nhờ có lao động con người biết phát triển công cụ, cải thiện đời sống. Con người ý thức được nguồn nuôi sống bận thân đến từ thiên nhiên để khai thác thiên nhiên thông qua quá trình cải tiến công cụ lao động. Việc sử dụng đồ đã để làm công cụ dẫn tìm tới việc tạo ra lửa trở thành bước ngoặt to lớn trong qua trình tiến hóa mấy triệu năm và giúp con người tồn tại. Hoặc có lao động con người bắt đầu hỏa đồng với nhau, sống với nhau thành từng nhóm, biết được vai trò của mình trong nhóm và thông qua quá trinh lao động đã dẫn tới quá trình phân cấp và phân hóa xã hội. Tất cả đều thuộc vào ý thức của con người.
Điều khác biệt giữa con người và con vật là trước khi lao động làm ra một sản phẩm nào đó, con người phải hình dung ra trước mô hình của cái cần phải làm và cách làm ra cái đỗ trên cơ sở huy động toàn bộ hiểu biết, năng lực trí tuệ của mình vào đó con người có ý thức về cái mình sẽ làm ra.
Trong lao động con người phải chế tạo và sử dụng các công cụ lao động, tiến hành các thao tác và hành động lao động tác động vào đối tượng lao động để làm ra sản phẩm. Ý thức của con người được hình thành và thể hiện trong quả trình lao động.
Kết thúc quả trình lao động. con người có ý thức đối CHÍnh SẢN phẩm MÌNH làm ra với mô hình tâm lí của sản phẩm mà mình đã hình dung trước đó để hoàn thiện đánh giá sản phẩm đó. Như vậy có thể nói, ý thức được hình thành và biểu hiện thông suốt thông qua quá trình lao động của con người, thống nhất với quá trình lao động và sản phẩm lao động do mình làm ra.
2. Ngôn NGỮ
quan Niệm
Ngôn ngữ là một hệ thống giao tiếp có cấu trúc được sử dụng bởi con người. Cấu trúc của ngôn ngữ được gọi là ngữ pháp, còn các thành phần tự do của nó được gọi là từ vựng. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chính của con người, tồn tại ở dạng lời nói, ký hiệu hoặc chữ viết.
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, ngôn ngữ là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng. Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội loài NGƯời.
VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ TRONG XÃ HỘI
Ngôn ngữ nói không chỉ là một công cụ giao tiếp mà còn là một phần không thể tách rời của con người và xã hội. Nó giúp tạo ra sự đa dạng và phức tạp trong cách con người tương tác và giao tiếp. Ngôn ngữ nói bao gồm việc sử dụng các âm thanh, từ vựng, ngữ pháp và ngữ điệu để tạo ra các câu chữ và lời nói. Vai trò chính của ngôn ngữ nói là tạo điều kiện cho giao tiếp hiệu quả giữa con người. Nó cũng là công cụ điều hành, quản lí, tổ chức, phân phối hàng hóa và mọi mặt của đời sống, ban hành văn bản, phát lệnh nhà nước để mọi người tuân theo. Ngôn ngữ nói còn cho phép con người biểu đạt cảm xúc và tình cảm của họ. Nó tạo nên khả năng tương tác và giao tiếp tốt hơn trong các tình huống thực tế.
vai trò của NGÔN ngữ trong việc hình thành ý thức
Về ngôn ngữ, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Do lao động vốn mang tính xã hội nên trong chính quá trình đó cũng nảy sinh ngôn ngữ. Ngôn ngữ cũng là nhân tố quan trọng tác động đến quá trình lao động và phát triển ý thức của con người. Ngôn ngữ giúp con người thể hiện, được những đặc điểm thuộc tính sự vật hiện tượng bên ngoài, thể hiện được suy nghĩ cảm xúc tư tưởng, kết nối và tạo điều kiện để kích thích tư duy phát triển ý thức. Do đó nếu không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và phát triển được
mối liên hệ LAO ĐỘNG VÀ NGÔN NGỮ
Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và lao động là rất sâu sắc. Trong quá trình lao động, ngôn ngữ giúp con người thông báo, trao đổi thông tin với nhau, phối hợp động tác với nhau để cùng làm ra sản phẩm chung . Ngôn ngữ cũng giúp con người phân tích đối chiếu, đánh giá sản phẩm mà mình đã làm ra . Về ngôn ngữ, đó là thành tựu vĩ đại nhất của con người để đáp ứng nhu cầu trao đổi ý thức và suy nghĩ qua đó thuận tiện cho sự phát triển xã hội . Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ: trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ. Đó là hai động lực chủ yếu đã biến bộ não con vượn thành bộ óc con người . Nhờ lao động, con người tách khỏi giới động vật, hình thành ý thức (trong đó có tư duy) và ngôn ngữ. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý THỨC. Tóm lại, ngôn ngữ và lao động đều hình thành trong quá trình tiến hóa của loài người và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ngôn ngữ giúp con người trao đổi thông tin, phối hợp động tác với nhau để cùng làm ra sản phẩm chung và phân tích đối chiếu, đánh giá sản phẩm mà mình đã làm ra. Lao động và ngôn ngữ đều là những động lực chủ yếu đã biến bộ não con vượn thành bộ óc con người
KẾt luận
Vai trò của lao động và ngôn ngữ
Lao động và ngôn ngữ là hai yếu tố chủ yếu đã biến bộ não con vượn thành bộ óc con người, tạo nên sự hình thành ý thức của con người . Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tác động, biến đổi các vật chất tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người. Ý thức là trạng thái hay đặc tính của sự nhận thức, hoặc của việc nhận thức vật thể bên ngoài hay điều gì đó bên trong nội tại. Ý thức là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và mối quan hệ của con người trong thế giới
Tóm lại, lao động và ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành ý thức của con người. Lao động giúp con người nhận thức được nguồn nuôi sống bản thân đến từ thiên nhiên để khai thác thiên nhiên thông qua quá trình cải tiến công cụ lao động. Ngôn ngữ là thành tựu vĩ đại nhất của con người để đáp ứng nhu cầu trao đổi ý thức và suy nghĩ qua đó thuận tiện cho sự phát triển xã HỘI.
cảm ơn
cô và mọi người đã chú ý lắng nghe phần trình bày.
Did you know...
Did you know that 90% of the information we assimilate comes through sight? Visual resources are very helpful for reinforcing your message: images, illustrations, gifs, videos... Not only because they remain in memory, but alsobecause they are more attractive and easierto understand.