Want to create interactive content? It’s easy in Genially!

Get started free

LÍ THUYẾT HỘI THOẠI

Đinh Nguyễn Trâm Anh

Created on December 12, 2022

Start designing with a free template

Discover more than 1500 professional designs like these:

Tarot Presentation

Vaporwave presentation

Women's Presentation

Geniaflix Presentation

Shadow Presentation

Newspaper Presentation

Memories Presentation

Transcript

lýthuyếthội thoại

nhóm5

Thành viên nhóm 5

  • Đỗ Đức Huy
  • Phạm Linh Chi
  • Phạm Quang
  • Trần Thị Thu Thủy
  • Lê Phương Nhi
  • Nguyễn Ngọc Linh
  • Đinh Nguyễn Trâm Anh
  • Đào Tuấn Minh
  • Nguyễn Đình Anh Huy

Nội dung

I. Các VẬN ĐỘNG HỘI THOẠI

III. Các quy tắc hội thoại

II. Các yếu tố kèm lời và phi lời

IV. Cấu trúc hội thoại

1. NT luân phiên lượt lời2. NT liên kết hội thoại 3. NT cộng tác hội thoại 4. Lý thuyết quan yếu 5. Định nghĩa về phép lich sự 6. Các lí thuyết về lịch sự

1. Khái niệm hội thoại2. Sự trao lời 3. Sự trao đáp 4. Sự tương tác

1. Liệt kê các đơn vị2. Cuộc thoại 3. Đoạn thoại 4. Cặp trao đáp

1. Khái niệm2. Nội dung

I. VẬN ĐỘNG HỘI THOẠI

1. Khái niệm hội thoại:

- Là hình thức giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ - Là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác

Các dạng hội thoại dựa vào số lượng người tham gia:

Process I

Process II

Process III

Tam thoại: Đối thoại tay ba.

Đa thoại: Đối thoại tay tư hoặc nhiều hơn nữa.

Song thoại: Đối thoại tay đôi (dạng cơ bản).

Một số khái niệm liên quan:

cặp củng cố, sửa chữa

Lượt lời

cặp kế cận

Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình.

Cặp lượt lời có chức năng chủ yếu là điều hòa quan hệ tương tác giữa các đối tác trong hội thoại.

Hai lượt lời kế cận nhau, được điều khiển bằng quy tắc giữ sự cân bằng trong tương tác như cặp chào/chào, hỏi/đáp…

Ba vận động đặc trưng Của hội thoại:

VD: An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị mi mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với: - Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé - Ừ. Em ngủ đi.

1. Sự trao lời:

- KN: Vận động mà người nói SP1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía SP2 nhằm làm cho SP2 biết được rằng lượt lời được nói ra là dành cho SP2.Sp: người tham gia hội thoại Sp1: vai nói, Sp2: vai nghe Sp1, Sp2, Spn là các đối tác đối thoại.

Ba vận động đặc trưng Của hội thoại:

VD: An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị mi mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với: - Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé - Ừ. Em ngủ đi.

1. Sự trao lời:

- KN: Vận động mà người nói SP1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía SP2 nhằm làm cho SP2 biết được rằng lượt lời được nói ra là dành cho SP2.Sp: người tham gia hội thoại Sp1: vai nói, Sp2: vai nghe Sp1, Sp2, Spn là các đối tác đối thoại.

ba vận động đặc trưng của hội thoại:

1. Trao lời:

- Trong trường hợp độc thoại, ở người nói có sự phân đôi nhân cách: người đó vừa là nhân cách nghe, vừa là nhân cách nói. Và khi hoạt động theo nhân cách nào, người đó vẫn là hai nhân vật khác nhau, tuân theo hai loại quy tắc hoạt động khác nhau.

ba vận động đặc trưng của hội thoại:

1. Sự trao lời:

Đối với những cuộc đa thoại thì lượt lời của Sp1 phải có những dấu hiệu để báo cho những người nghe đương trường biết ai là người nghe đích thực của lượt lời đó:

  • Những vận động cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt) hướng tới người nhận.
  • Những yếu tố ngôn ngữ tường minh ( lời hô gọi, chỉ định, thưa gửi, từ nhân xưng ngôi thứ hai)
  • Những yếu tố hàm ẩn như những tiền giả định giao tiếp ( tiền giả định bách khoa), những hiểu biết mà người nói và người nghe có chung hứng thú.

Trong trao lời, sự có mặt của Sp1 là tất yếu. Người nói Sp1 có thể dùng cử chỉ như gãi đầu, đập bàn, vỗ ngực,.. để làm dấu hiệu bổ sung cho lời nói đánh dấu sự có mặt của mình.

Sự trao đáp

  • Cuộc hội thoại hình thành khi Sp2 (vai nghe) nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của Sp1 (vai nói). Vận động trao đáp sẽ diễn ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh; chậm với sự thay đổi liên tục vai nói, vai nghe.

Sự hồi đáp có thể thực hiện bằng hai yếu tố đồng hành:

BẰNG LỜI

PHI LỜI

Sự hồi đáp trong tất cả các hành vi ngôn ngữ

Bằng các hành vi ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập lập thành cặp.

01

Bằng những hành vi bất kỳ, không tương thích với hành vi dẫn nhập.

02

Bằng hành vi cảm thán hay khảo nghiệm

03

Có những diễn ngôn mà người nghe không thể hồi đáp, như:

Diễn ngôn viết

Lời tuyên án của quan tòa

SỰ TƯƠNG TÁC

VAI TRÒ CỦACÁC NHÂN VẬT HỘI THOẠI

ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHAUTÁC ĐỘNG QUA LẠI ĐẾN NHAU => LÀM BIẾN ĐỔI NHAU

  • Trong hội thoại, các nhân vật hội thoại cũng đồng thời là các NHÂN VẬT LIÊN TƯƠNG TÁC
  • Họ tác động tới nhau ở mọi phương diện, nhưng quan trọng nhất là tác động tới LỜI NÓI (và ngôn ngữ) của nhau.
  • Trước hội thoại, các nhân vật có sự khác biệt hoặc thậm chí đối lập về hiểu biết, tâm lí, tình cảm
  • Sau hội thoại, những khác biệt này có thể:
+ Giảm đi + Tăng lên (thậm chí gây xung đột)

Liên tương tác

LÀ SỰ LIÊN TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC LƯỢT LỜI CỦA SP1 VÀ SP2

- LƯỢT LỜI: vừa chịu tác động, vừa là phương tiện để Sp1 và Sp2 tác động lẫn nhau. (đầu tiên là tác động đến lời nói, sau đó đến tâm lí, sinh lí, vật lí của nhau)- Muốn cuộc hội thoại được diễn ra theo hướng nhịp nhàng, thì cần có sự hòa phối các hoạt động của đối tác về mọi mặt, quan trọng nhất là hòa phối các lượt lời.

SỰ HÒA PHỐI

Được xảy ra trên 2 quá trình: tự hòa phối và liên hòa phối:

Tự hòa phối

Liên hòa phối

Sự tự hòa phối

- Mỗi nhân vật tự điều chỉnh hành động, thái độ, lượt lời của mình sao cho khớp với những biến đổi của đối tác

- Sự tự hòa phối này xuất phát từ sự chủ động, có ý định - Chúng ta tự hòa phối để làm “căng thêm" hay “dịu đi" vấn đề, đều là có chủ ý cả ta

Sự liên hòa phối

Là phối hợp sự tự hòa phối của từng nhân vậtSự liên hòa phối có thể theo trục nối tiếp hoặc trục đồng thời

Trục nối tiếp:

Trục đồng thời

Diễn ra khi cả 2 cùng 1 lúc thực hiện sự tự hòa phối VD: thông qua cả hai cùng cười, cùng liếc nhau,...

Sau khi 1 nhân vật biến đổi cách ứng xử của mình, nhân vật kia cũng thực hiện 1 biến đổi

Các tín hiệu phát ngôn liên hòa phối này vừa có tính kèm lời, vừa có tính phi lời

Những tín hiệu điều hành vận động trao đáp chi phối sự nói ra các lượt lời của các nhân vật liên tương tác

Những tín hiệu chi phối sự liên hòa phối các lượt lời.

3-1: Các tín hiệu điều hành vận động trao đáp:

  • Đóng vai trò những tín hiệu chi phối sự phát ngôn là những lời chào, hay lời giới thiệu, những quy tắc tạo lập, duy trì và củng cố hội thoại.
  • Nói là nói với ai đó, vì vậy người nói sẽ dùng tín hiệu tới người nghe để biểu thị mình đang nói
  • Ngược lại, người nghe cũng sẽ đáp lại bằng những tín hiệu phản hồi: có thể bằng các tiếng “à, ừ,...” hay bằng các câu cảm thán “ôi thế á, thật á, ghê vậy sao?”
  • Không phải 2 người cứ nói là thành 1 đoạn hội thoại
=> Họ phải có ý thức "dấn thân" vào hội thoại (sử dụng một hệ thống những phương tiện “hợp thức hóa" liên phát ngôn)+ Nhờ những phương tiện này, người tham gia hội thoại sẽ “phê chuẩn" tư cách thành viên hội thoại của nhau (VD: khi ta quát ai đó “không được nói leo, không phải việc của mày" => ta đã không phê chuẩn tư cách thành viên hội thoại của người đó)

TÍN HIỆU PHẢN HỒI

ĐƯỢC CHIA LÀM 3 NHÓM

Tôi đang gặp khó khăn trong việc tiếp nhận lời nói của anh

Tôi không chú ý đến lời nói của anh nữa

Tôi đang theo dõi lời nói của anh

(nhìn sang chỗ khác, không phản ứng trước lời của người nói)

(ừ hứ, ồ, à,...)

(yêu cầu nhắc lại, hỏi “Cái gì cơ?”,...)

3-2: Tín hiệu chi phối sự liên hòa phối lượt lời

  • Sự hòa phối lãnh địa hội thoại diễn ra theo dạng: Tôi nói - Anh nói - Tôi nói,.. cho đến hết
  • Trong khi giữ quyền nói, ta được phép nói nhưng không được nói quá nhiều, phải biết nhường lời cho người khác. Và ta chỉ có quyền tiếp tục nói chừng nào được đối tác cho phép.
  • Lượt lời là những đơn vị hình thức và nội dung cơ bản tạo nên một cuộc hội thoại => sự liên hòa phối hội thoại trước hết là liên hòa phối lượt lời.
  • Các đối tác hội thoại đều có quyền được nói, và có lãnh địa hội thoại của riêng mình
*Trong cuộc hội thoại, mỗi người đều có quyền nói một cách bình đẳng, mỗi nhân vật đều có quyền giành lấy và giữ vững lãnh địa hội thoại của mình,

vị trí chuyển tiếp quan yếu

Vị trí chuyển giao nhau giữa hai lượt lời

Là nơi mà 1 người ngừng nói và nhường lượt cho người kia nói. Giữa các khoảng dừng ấy sẽ được ngắt bằng: dấu chấm, dấu phẩy (nếu trong văn bản) và bằng chỗ nghĩ, ngắt hơi,.. được gọi chung là chỗ dừng. => Như thế, chỗ ngừng là tín hiệu của các TRP.

FUN FACT

Sự cướp lời “thiện ý"Người Mỹ thường có chỗ ngừng trong khoảng 5/10s, trong đó người Pháp là 3/10s

Để chuyển giao lượt lời nhịp nhàng, cần có khả năng nhận biết các TRP

Người nói trước phải nhận ra chỗ mà người nói sau sẽ ngừng

Những nhân tố giúp xác định TRP

Kiểu hội thoại:Cấu trúc của hội thoại Cấu trúc của lượt lời: Cấu trúc ngữ pháp Ánh mắt, cử chỉ Ngữ điệu, âm lượng Sự kéo dài âm tiết cuối lượt lời.

TỔNG KẾT CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI THOẠI

- Ba vận động của hội thoại là:+ Trao lời+ Trao đáp + Tương tác Trong đó, 2 vận động đầu do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp với nhau thành vận động thứ 3 Bằng vận động trao lời và trao đáp, các nhân vật sẽ tự hòa phối để thực hiện liên hòa phối. Sự liên hòa phối khiến hội thoại trở thành hoạt động đặc biệt của con người Quy tắc, cấu trúc, chức năng của hội thoại đều do 3 vận động trên mà có.

ii

YẾU TỐ KÈM LỜI VÀ PHI LỜI

  • YẾU TỐ KÈM LỜI
  • YẾU TỐ PHI LỜI

Khi giao tiếp, đôi khi chúng ta không thể diễn đạt được ý của mình thông qua ngôn từ, hay nếu chỉ dùng ngôn ngữ thì sẽ rất khó hiểu.trong những trường hợp như vậy, chúng ta sẽ dùng cả cơ thể để trò chuyện. Arbercrombie từng viết: “ Chúng ta nói bằng các cơ quan cấu âm, nhưng hội thoại bằng cả cơ thể…”

yếu tố kèm lời

- là yếu tố tuy không đoạn tính như âm vị và âm tiết nhưng đi kèm với nó._ Bao gồm các yếu tố về trọng âm, ngữ điệu, đỉnh giọng,...

- Có vai trò biểu nghĩa, đặc biệt là nghĩa ngữ dụng._ Việc nghiên cứu trong ngôn ngữ học chưa có gì đáng kể, trong tiếng Việt càng không.

Yếu tố phi lời

- Không phải yếu tố kèm lời trong đối thoại trực tiếp.

- Cử chỉ, tư thế cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt, khoảng không gian,…., là những yếu tố phi lời.- Những âm thanh như tiếng gõ bàn, huýt sáo,... cũng được coi là tín hiệu phi lời.

- Thị giác: tiếp nhận các thông tin qua chuyển động của cơ thể, hay bề ngoài của đối tượng.

-Cơ thể: những tín hiệu đến từ vận dộng cơ thể, có thể là những vận dộng từ chậm đến nhanh hơn.

- Đóng vai trò nhất định trong việc lí giải lời nói.

- Một vài tín hiệu mang tính hỗn đồng.

- Tuy thứ yếu nhưng lại rất quan trọng để hội thoại không bị tẻ nhạt, nhàm chán.

- Một vài tín hiệu là tiên khởi của một hội thoại.

- Mang đặc điểm văn hoá

- Tín hiệu về không gian.

Tổng kết

<><><><><><><><><><><>

- Không thể bỏ qua yếu tố kèm lời và phi lời khi đang giao tiếp bằng lời.- Arbercrombie từng viết: " Chúng ta nói bằng cơ quan cấu âm nhưng hội thoại bằng cả cơ thể của chúng ta ... chỉ có thể hiểu đầy đủ các cách sử dụng ngôn ngữ khi các yếu tố kèm ngôn ngữ được chú ý đầy đủ.

iiI

Các quy tắc hội thoại

  • Nguyên tắc luân phiên lượt lời
  • Nguyên tắc liên kết hội thoại
  • Các nguyên tắc hội thoại

nGUYÊN TẮC LUÂN PHIÊN LƯỢT LỜI

  • Vai nói thường xuyên thay đổi cho nhau.
  • Mỗi lần chỉ có một người nói.
  • Mỗi lượt nói đều có sự thay đổi về độ dài nên cần biện pháp để nhận biết khi một lượt lời kết thúc.
  • Trường hợp nhiều người nói một lúc thường gặp nhưng không kéo dài.
  • Thông thường khi 2 lượt lời chuyển tiếp cho nhau không bị ngắt quãng hay dẫm đạp lên nhau.
  • Trật tự nói không cố định.

Nguyên tắc liên kết hội thoại

Tôi không đói, cảm ơn!

  • Một cuộc hội thoại phải có sự liên kết giữa các phát ngôn và hành vi ngôn ngữ.
  • Tính liên kết hội thoại không chỉ thuộc lĩnh vực nội dung và thể hiện bằng các dấu hiệu ngữ pháp hiểu theo nghĩa truyền thống mà nó còn thuộc các lĩnh vực hành động ở lời,còn thể hiện trong quan hệ lập luận.

Bạn có đói không?

Các Nguyên tắc hội thoại

  • Nguyên tắc cộng tác hội thoại
  • Lý thuyết quan yếu
  • Phép lịch sự

Nguyên tắc cộng tác

H.P.Grice là tác giả của nguyên tắc cộng tác được nêu ra lần đầu trong bài giảng của mình tại Havard năm 1967.

+ Info

Phương Châm về Lượng

Truyền đạt thông tin một cách đầy đủ, không thiếu không thừa

+ Info

Phương châm về lượng

Thừa nhiều thông tin có thể dẫn đến:

1. Mất thì giờ 2. Làm lệch hướng cuộc hội thoại 3. Có thể làm cho những người tham gia hội thoại nghĩ rằng nó được tạo ra bởi 1 nguyên do đặc biệt nào đó đằng sau cuộc hội thoại đang tiếp diễn

Phương châm về chất

Không nói những điều không đúng hay chưa bằng chứng xác thực cụ thể → Dễ gây ra hiểu lầm và truyền đạt thông tin sai lệch cho người khác

+ Info

Phương châm quan yếu

Nói những điều phù hợp, đúng hoàn cảnh, đúng chủ đề

Phương châm cách thưc

1. Tránh nói tối nghĩa 2. Tránh nói đa nghĩa (mập mờ không rõ ràng) 3. Nói ngắn gọn 4. Sắp xếp theo trình tự phù hợp

+ Info

Tiểu kết

⇒ Những phương châm này được tạo ra hướng đến việc truyền đạt thông tin hiệu quả một cách tối đa xong vẫn còn nhiều hạn chế và ngộ nhận → Không thể phủ nhận sự đóng góp của Grice trong việc nghiên cứu ngữ dụng học sau này

+ Info

III-3-2. Lý thuyết quan yếu

Phương châm quan hệ của Grice sau này được D.Sperber và D.Wilson nâng lên cương vị một nguyên tắc cả giao tiếp và sự tri nhận của con người.

III-3-2. Lý thuyết quan yếu

Theo D.Sperber và D.Wilson

Theo Grice

Một phát ngôn có tính quan yếu là một phát ngôn có tác động đến ngữ cảnh.Tất cả các phát ngôn đều có tính quan yếu bất kể nó xuất hiện ở vị trí nào trong hội thoại. Cách xác định tính quan yếu của một phát ngôn: căn cứ vào ngữ cảnh, người nghe suy ý từ phát ngôn mà tìm ra tính quan yếu của phát ngôn.

Tính chất của phát ngôn xét trong quan hệ với phát ngôn khác (thường là với tiền ngôn trong ngôn cảnh)→ Nếu đối chiếu với tiền ngôn trong ngôn cảnh thì không thể xác nhận được là có tính quan yếu hay không

VS

Một phát ngôn có thể có quan yếu về

Về mặt lập luận: Khi nó có thể làm cơ sở để người nghe rút ra được những suy ý làm thay đổi hiểu biết hay tín hiệu của mình hoặc dẫn tới một lập luận nào đó

Về mặt ngữ dụng: Khi lời nói có hệ quả về mặt hành động, cách cư xử của người tham gia hội thoại

Một phát ngôn có thể có quan yếu về

Về mặt đề tài:

Về mặt hứng thú:

Khi tham gia hội thoại, các phát ngôn cần phải liên kết chặt chẽ với đề tài của hội thoại

Khi những thông tin mà phát ngôn cung cấp được xem là có một hứng thú, gây ra một sự quan tâm nào đó với người nghe.

VS

III-3-3. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự

định nghĩa về phép lịch sự

Là một phương thức để giảm thiểu xung đột trong diễn ngôn; Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.

Các lí thuyết về lịch sự

- Có 3 quan niệm tương đối hoàn chỉnh về lịch sự. Đó là quan điểm của R. lakoff, của G.N leech và của P. Brown và S. Levinson.

Các lí thuyết về lịch sự

Lakoff nêu ra 3 loại quy tắc lịch sự:

- Không được áp đặt- Dành cho người đối thoại sự lựa chọn - Khuyến khích tình cảm bạn bè hay thân tình

Các lí thuyết về lịch sự

Thứ nhất là quy tắc lịch sự quy thức. Đó là quy tắc: Không được áp đặt.

- Quy tắc này thích hợp trong ngữ cảnh mà người tham gia hội thoại có một sự khác biệt cụ thể về quyền thực và cương vị như giáo viên và học sinh, nhân viên và giám đốc,...- Nói tổng quát là người nói khi giao tiếp sẽ cho rằng người tham gia không có cá tính hay không có những kinh nghiệm chung với mình. Để từ đó tránh đả động đến những vấn đề riêng tư, những chủ đề nhạy cảm đi kèm theo đó là những lời nói tục tằn, thổ ngữ và tiếng lóng.

+ Info

Các lí thuyết về lịch sự

Thứ hai là quy tắc: Dành cho người đối thoại sự lựa chọn.

Ví dụ:

  1. Có lẽ bạn cho mình xem tờ báo một lát được rồi đấy nhỉ ( Có lẽ, một lát là từ rào đón)
  2. Bác đã xem xong tờ báo này chưa ạ (hàm ẩn: cho tôi mượn tờ báo nếu bác đã đọc xong)
  3. Không biết gọi nhờ điện thoại của bác có làm phiền bác lắm không ạ ? ( một lời thỉnh cầu gián tiếp)
  1. Quy tắc này thích hợp đối với ngữ cảnh mà trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị tương đương nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội, như là thương nhân với khách hàng mới hoặc 2 người xa lạ với nhau trong phòng khám,...
  2. Nói chung quy tắc này là nếu A muốn thuyết phục B theo một quan điểm nào đó thì A sẽ nói sao cho cho B không buộc phải nhận ra ý định của A. Những điều mà A nói ra sẽ thường được rào đón, nói theo ý hàm ẩn hoặc nói một cách mơ hồ:

Các lí thuyết về lịch sự

Quy tắc thứ ba là quy tắc về phép lịch sự bạn bè. Đó là quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè hay thân tình.

Quy tắc này thích hợp với những bạn bè gần gũi hoặc thật sự thân mật với nhau. Trong phép lịch sự thân tình hầu như tất cả đề tài có thể đem ra mà trò chuyện. Nói với nhau bằng hàm ẩn chứng tỏ rằng mối quan hệ chưa thật sự thân thiết. Những người theo phép lịch sự này thường sử dụng các từ xưng hô quen thuộc, các biệt danh những lời chửi thề,...

+ Info

Các lí thuyết về lịch sự

Ngoài Lakoff ra, ta còn có siêu quy tắc lịch sự của Leech: Hãy giảm thiểu biểu hiện của những niềm tin không lịch sự và hãy tăng tối đa biểu hiện của những niềm tin lịch sự. Siêu nguyên tắc này cũng bao gồm 6 phương châm lịch sự, cụ thể như sau:

Phương châm khéo léo:- Giảm thiểu tổn thất cho người - Tăng tối đa lợi ích cho người

Phương châm khiêm tốn - Giảm thiểu sự khen ngợi ta - Tăng tối đa sự chê bai ta

Phương châm tán đồng - Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người - Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người

Phương châm rộng rãi - Giảm thiểu lợi ích cho ta - Tăng tối đa tổn thất cho ta

Phương châm tán thưởng - Giảm thiểu sự chê bai đối với người - Tăng tối đa sự khen ngợi người

Phương châm thiện cảm - Giảm thiểu ác cảm giữa ta và người - Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người

Các lí thuyết về lịch sự

Trong đó, phương châm khéo léo và rộng rãi chuyên dụng cho các hành vi cầu khiến và cam kết, phương châm tán thưởng chuyên dụng cho hành vi biểu cảm và xác tín, các phương châm khiêm tốn, tán đồng và thiện cảm đều chuyên dụng cho hành vi xác tín.

Lí thuyết của brown và levinson

  • Brown & Levinson đã mượn khái niệm “thể diện” của Goffman để xây dựng lý thuyết về lịch sự với cách hiểu: “Thể diện là hình ảnh của bản thân trước người khác” (public self-image)”.
  • Họ đã phân biệt hai loại thể diện: thể diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative face).

Thể diện

Thể diện âm tính

Thể diện dương tính

  • Chỉ mong muốn được tự do hành động mà không bị sự áp đặt của người khác.
  • Thể diện âm tính còn được gọi là thể diện lãnh địa (lãnh địa của cái tôi)
  • Thể hiện mong muốn được người khác tán thưởng, tôn trọng, hòa đồng, gắn kết

VS

Thể diện

Với sự phân biệt thể diện dương tính và âm tính, Brown & Levinson cho rằng, trong tương tác, có thể nhận diện bốn kiểu thể diện có quan hệ cộng sinh với nhau:

  • Thể diện dương tính của người nói
  • Thể diện âm tính của người nói
  • Thể diện dương tính của người nghe
  • Thể diện âm tính của người nghe

HÀNH VI ĐE DỌA Thể diện

  • Trong tương tác bằng ngôn ngữ, hầu hết các hành vi ngôn ngữ đều tiềm tàng khả năng gây tổn hại đến thể diện của chính người nói (self) và của người khác (other). Những hành vi như vậy được gọi là hành vi đe doạ thể diện (face threatening act - FTA). Brown & Levinson đã phân loại các hành vi đe doạ thể diện thành những hành vi:
  1. Đe doạ thể diện âm tính của người nói (cam kết, hứa, biếu, ...)
  2. Đe doạ thể diện dương tính của người nói (thú nhận, xin lỗi, cảm ơn, phê bình, ...)
  3. Đe doạ thể diện âm tính của người tiếp nhận (hành vi bằng lời: khuyên; chỉ bảo quá mức, hỏi quá sâu vào đời tư, ngắt lời, nói chen ngang, ... và hành vi phi lời: vi phạm không gian, thời gian, gây ồn ào, ...)
  4. Đe doạ thể diện dương tính của người tiếp nhận (chửi, chê bai, chỉ trích, chế giễu, lăng mạ,...).

HÀNH VI ĐE DỌA Thể diện

  • Thường là, một FTA đồng thời đe doạ nhiều hơn một loại thể diện.
  • Ví dụ, với hành động hứa, người hứa bị đe doạ thể diện âm tính vì phải chịu trách nhiệm cá nhân, bị ràng buộc về lời hứa của minh. Người tiếp nhận lời hứa cũng bị ràng buộc bởi lời hứa, và như vậy, thể diện âm tính của người đó cũng bị đe doạ. Nếu người được hứa từ chối tiếp nhận lời hứa thì thể diện dương tính của cả người hứa và người được hứa đều bị đe doạ.

HÀNH VI Giữ Thể diện

  • Giao tiếp là một loại hoạt động liên cá nhân nhằm trao đổi thông tin. Trong giao tiếp bằng phương tiện ngôn ngữ, các hành vi tại lời luôn có nguy cơ bị đe doạ. Để giữ thể diện cho cả người nhận và người nói, người nói luôn phải tìm cách làm dịu nguy cơ đe dọa thể diện bằng các hành vi giữ thể diện (face saving act - FSA).
  • Ví dụ trong trường hợp trong lớp học, bị nhóm bạn ngồi gần làm phiền, bạn A nổi cáu nói với bạn B:
- Chắc phải kêu đám kia câm mồm lại mất, nhức đầu quá tao không tập trung được. nhưng bạn B lại đáp: - Thôi, nhịn đi mày. Có gì hỏi xem tụi nó có thể nói nhỏ lại không vì cũng sắp được về rồi.
  • So với cách nói đe dọa thể diện của A thì lời nói của bạn B là một hành vi giữ thể diện cho nhóm bạn (và cả bạn A)

Chiến lược lịch sự

  • Hành vi lịch sự là hành vi thể hiện ý thức về thể diện của người khác. Trong tương tác, ngưòi nói phải tính toán các mức độ đe doạ thể diện của hành động tại lời được dự định thực hiện để tìm cách làm giảm nhẹ mức độ đe doạ thể diện.
  • Mức độ đe doạ này tuỳ thuộc vào ba yếu tố:
  1. Quyền uy (Power - P) so sánh giữa người nói và người nghe
  2. Mức độ thân - sơ (Distance - D) giữa người nói và người nghe
  3. Mức độ áp đặt của hành động nói (Ranking of imposition - R) trong nền văn hóa của cả người nói và người nghe.
=> Nếu khoảng cách giữa người nói và người nghe càng lớn, người nghe càng có nhiều quyền uy đối với người nói. Một hành vi như thỉnh cầu chẳng hạn càng được xem là có tính áp đặt trong nền văn hóa của cả người nói và người nghe, thì người nghe càng thiên về lựa chọn một chiến lược như chiến lược nói gián tiếp hoặc im lặng để không gây ra sự đe doạ thể diện của của cả người nói và người nghe.

Chiến lược lịch sự

  • Theo Brown & Levinson, lịch sự là chiến lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức độ mất thể diện đã hoặc sẽ xảy ra trong hoạt động giao tiếp của con người. Các nhà nghiên cứu này đã đề xuất các chiến lược và tiểu chiến lược được coi là phổ quát sau:
  1. Nói không bù đắp (without redressive action)
  2. Lịch sự dương tính (positive politeness)
  3. Lịch sự âm tính (negative politeness)
  4. Nói gián tiếp / nói xa (off-record)
  5. Không thực hiện hành vi đe dọa thể diện (FTA).

Chiến lược lịch sự

Sơ đồ của Brown & Levinson về quá trình lựa chọn chiến lược giao tiếp

*(Tìm hiểu thêm ở trong HLBB 2 Đỗ Hữu Châu, Ngôn ngữ học đại cương, Tập 2, Ngữ dụng học, NXBGD, 2001.) (t.269 - 279)

3.CẤU TRÚC HỘI THOẠI THEO LÝ THUYẾT HỘI THOẠI THụY Sĩ-Pháp

Cuộc thoại

  • Cuộc thoại (conversation) ; cuộc tương tác (interaction) là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất.
  • Có thể nói toàn bộ hoạt đông ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời đối đáp.
  • Việc phải tách ra trong chuỗi dằng dặc những lời đối đáp của con người những đơn vị gọi là cuộc thoại.

Tiêu chí để xác định cuộc hội thoại

Dựa vào những tiêu chí sau để xác định một cuộc thoại :

2. Tính thống nhất về thời gian và địa điểm

1. Nhân vật hội thoại

3. Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn

This is a paragraph of text waiting to be awesome content

1.Nhân vật hội thoại

  • Một cuộc hội thoại được xác định bởi sự gặp mặt và chia tay của hai người hội thoại. Khi số lượng hay tính chất của người hội thoại thay đổi thì ta có cuộc hội thoại mới.
  • Tuy nhiên một người nào đó có thể rút khỏi hoặc một người mới có thể gia nhập vào (trừ trường hợp lưỡng thoại) mà không nhất thiết phải chuyển qua một cuộc hội thoại khác.

2.Tính thống nhất về thời gian và địa điểm

  • Tiêu chí này có cũng có chỗ hạn chế: Một cuộc hội thoại giữa hai người có thể chuyển chỗ hoặc có thể được gác sang lại một ngày khác chừng nào mà họ thấy chưa kết thúc được.

3.Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn

  • Theo Grice thì một cuộc hội thoại phải theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc.
  • Nhưng với C. K. Orecchioni thì để có một và chỉ một cuộc hội thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không dứt quãng trong một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không dứt quãng.
  • Tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới của cuộc thoại: Trong trò chuyện giữa những người lạ,dấu hiệu mở đầu là những lời chào hỏi,dấu hiệu kết thúc là những câu hỏi như: “Còn gì nữa không nhỉ? Thế thôi nhé.” Tuy nhiên những dấu hiệu này không bắt buộc.

đoạn thoại

Định nghĩa về nguyên tắc

Định nghĩa về ngữ nghĩa:

Là một mảng diễn ngôn do một số cắp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa.

Là sự liên kết chủ đề: một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về dích.

Cấu trúc của một đoạn thoại

Thân cuộc thoại

Đoạn thoại kết thúc

Đoạn thoại mở thoại

Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và kết thúc phần lớn được nghi thức hóa và lệ thuộc vào nhiều yếu tố: + Kiểu hội thoại (hội đàm, thương thuyết,..), + Hoàn cảnh giao tiếp. + Hoàn cảnh gặp gỡ. + Quan hệ giữa các nhân vật hội thoại. (mẹ và con,...) .....

Nguyên tắc chung của đoạn thoại mở đầu và kết thúc

Không dễ dàng gì chuyển từ sự im lặng sang nói năng và ngược lại.

Chức năng của đoạn thoại mở thoại

+ Phá vỡ "tảng băng" giữa các nhân vật.+ "Thương lượng hội thoại" về đề tài diễn ngôn. + Thăm dò đối phương về mọi mặt. + Thường trong đoạn mở thoại, người mở thoại thường tránh sự xúc phạm đến thể diện người nghe.

Chức năng của đoạn thoại kết thúc

Tổ chức sự kết thúc gặp gỡ và tìm cách xác định cái cách mà người ta phải chia tay.

Các cách kết thúc một đoạn hội thoại

+ Đưa ra lời xin lỗi về việc phải kết thúc và chia tay.+ Tổng kết cuộc thoại, cám ơn, hứa hẹn.

Tips tips tips

Một số tư duy có thể giúp bạn trở thành 1 nhân vật hội thoại tốt hơn

  • “Everyone you ever meet knows something that you don't"; Luôn tò mò, luôn học hỏi.
  • “If your mouth is open, you're not learning", chậm lại, nghe để thấu hiểu
How to Have a Good Conversation | Celeste Headlee | TEDxCreativeCoast

Thanks for listening!

Mọi người hỏi dễ thôi ạ, tết nhất đến nơi rồi :(